Insulin trong điều trị tiểu đường

Insulin trong điều trị tiểu đường
Đánh giá bài viết

Tác dụng chính của insulin lên sự ổn định nồng độ đường huyết xảy ra sau khi insulin đã gắn với các thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào của các mô nhạy cảm với insulin, đặc biệt là gan, cơ vân và mô mỡ.

Sự phát hiện và sản xuất ra Insulin được coi là một trong những bước tiến lớn nhất của nền y học thế giới. Đây cũng chính phương pháp điều trị bệnh tiểu đường hữu hiệu. Công lao lớn này thuộc về hai nhà khoa học người Canada là Frederick G. Banting và Charles H. Best. Vào khoảng thập niên 30 của thế kỷ trước, hai nhà khoa học này đã khám phá ra loại hormone mà cơ thể dùng để phân giải đường, nhằm điều hòa chỉ số đường huyết, được tiết ra bởi tuyến Tụy là Insulin. Tiếp đó, họ đã thành công trong việc chiết xuất hoạt chất này từ động vật. Cho đến nay, đã có hàng tỷ sinh mạng trên thế giới được cứu sống nhờ phát hiện vĩ đại này.

Có bao nhiêu loại Insulin trên thị trường hiện nay?

Hiện nay có 4 loại chính, đó là:

  • Insulin tác dụng nhanh: loại insulin này bắt đầu hoạt động khoảng 15 phút sau khi tiêm và đạt đỉnh khoảng sau 1 giờ và kéo dài tác dụng trong 2 đến 4 giờ. Bạn nên tiêm insulin trước bữa ăn và thường tiêm trước insulin tác dụng kéo dài. Những loại insulin tác dụng nhanh gồm: insulin glulisine (Apidra®), insulin lispro (Humalog®) và insulin aspart (NovoLog®);
  • Insulin tác dụng ngắn: loại insulin này bắt đầu có tác dụng khoảng 30 phút sau khi tiêm và đạt đỉnh sau khoảng 2 đến 3 giờ và có tác dụng kéo dài trong 3 đến 6 giờ. Bạn nên tiêm insulin trước bữa ăn và trước khi tiêm insulin tác dụng kéo dài. Những loại insulin tác dụng ngắn gồm: Humulin R, Novolin R;
  • Insulin tác dụng trung bình: loại insulin này thường bắt đầu có tác dụng khoảng 2 đến 4 giờ sau khi tiêm và đạt đỉnh khoảng 4 đến 12 giờ sau đó, kéo dài tác dụng trong 12 đến 18 giờ. Bạn nên sử dụng loại insulin này 2 lần một ngày kèm với insulin tác dụng nhanh hoặc insulin tác dụng ngắn. Những loại insulin tác dụng trung bình gồm: NPH (Humulin N, Novolin N);
  • Insulin tác dụng kéo dài: loại insulin này bắt đầu có tác dụng nhiều tiếng sau khi tiêm và đạt đỉnh sau khoảng 24 giờ. Nếu cần thiết, bạn nên sử dụng loại insulin này phối hợp với insulin tác dụng nhanh hoặc insulin tác dụng ngắn. Những loại insulin tác dụng kéo dài gồm: Insulin detemir (Levemir) và insulin glargine (Lantus).

Insulin được bảo quản như thế nào?

Bạn nên bảo quản thuốc insulin chính xác theo những bước sau để đảm bảo thuốc có thể hoạt động:

  • Bạn nên bảo quản insulin ở những nơi không có ánh sáng và nhiệt. Nếu bạn không bảo quản insulin trong tủ lạnh thì bạn hãy bảo quản nó ở mức độ lạnh vừa đủ (nhiệt độ từ 13,330C và 26,670C).
  • Bạn không được để insulin đông lạnh. Nếu insulin bị đông, bạn không được dùng nó, kể cả khi nó được rã đông.
  • Bạn hãy bảo quản chai insulin không sử dụng, hộp đựng và bút tiêm insulin trong tủ lạnh ở nhiệt độ từ 2,220C đến 7,780C. Nếu bạn bảo quản hợp lý, insulin sẽ có tác dụng tốt đến ngày hết hạn in trên chai;
  • Bạn hãy giữ hộp đựng và bút tiêm insulin bạn đang sử dụng gần đây ở nhiệt độ phòng (từ 13,330C và 26,670C).

Kỹ thuật tiêm insulin

  • Vị trí tiêm dưới da: Tất cả tổ chức dưới da trên cơ thể đều có thể dùng để tiêm, tuy nhiên trên thực tế thường dùng vùng đùi, cánh tay, bụng, hông, lưng. Chọn một vùng tiêm cho vài ngày vào những giờ tiêm nhất định, sau khi hết điểm tiêm mới chuyển sang vùng khác. Mỗi mũi tiêm cách nhau 2 – 4cm. Ví dụ: với người tiêm 3 mũi/ ngày chẳng hạn, chọn vùng bụng cho các mũi tiêm buổi sáng, vùng cánh tay dành cho các mũi tiêm buổi trưa, vùng đùi cho các mũi tiêm buổi chiều. Cần chú ý rằng nếu như vùng dự định tiêm sẽ phải vận động nhiều thì nên chuyển sang vùng khác. Ví dụ: nếu như vùng đùi được chọn sẽ tiêm mà sau đó đạp xe nhiều thì tiêm lên cánh tay.
  • Giờ tiêm: 15 – 30 phút trước khi ăn nếu là loại insulin nhanh, kể cả loại trung bình có pha trộn; 15 phút – 2 giờ trước khi ăn nếu là loại tác dụng trung bình (thường trước khoảng 1 giờ). Lưu ý: Khi đã chọn giờ tiêm thích hợp không nên thay đổi giờ tiêm đó quá thường xuyên.
  • Dụng cụ tiêm: Bông tẩm cồn , bơm tiêm hay bút tiêm. Cần chú ý sát trùng cả nút cao su của lọ thuốc khi lấy thuốc.
  • Cách tiêm: Với bệnh nhân có lớp mỡ dày và bút tiêm hay bơm có kim tiêm với độ dài thích hợp thì tiêm thẳng hay chéo vào dưới da. Với các bệnh nhân có lớp mỡ dưới da mỏng thì có thể dùng kỹ thuật véo da để tiêm.